Dòng Sông Dĩ Vãng - Chương 17
Tóm lược truyện dài DÒNG DÔNG DĨ VÃNG – TG : Lưu Phương Lan

(Designed by Nắng Cali)
Chuyện tình thơ mộng của Khánh, anh chàng sinh viên y khoa con nhà giàu với Phượng, cô nữ sinh con nhà nghèo nhưng rất đẹp. Họ gặp nhau tình cờ và yêu nhau tha thiết. Nhưng cuộc hôn nhân đó không được gia đình Khánh chấp thuận, bởi vì Phượng có một cậu em bị tật nguyền bẩm sinh.
Qua bao nhiêu khó khăn, họ vẫn lấy được nhau, và sống rất hạnh phúc cho tới một ngày khám phá ra Phượng bị mắc bệnh ung thư. Sau khi qua khỏi, Phượng tiếp tục việc học và trở thành một cô giáo rất tận tâm, yêu nghề. Nhưng chỉ được vài năm, ung thư lại tái phát.
Mặc dù là bác sĩ và hết sức thương yêu chăm sóc và chạy chữa cho vợ, nhưng Khánh cũng không thể cứu nàng thoát khỏi tay tử thần. Phượng qua đời sau đó.
Phần thứ hai là cuộc đời của Khánh sau cái chết của người vợ yêu dấu
CHƯƠNG 17
Bà hiệu trưởng Trâm Anh -và cũng là giám đốc cô nhi viện- xếp lại chồng hồ sơ xin việc cho ngay ngắn, rồi nhìn đồng hồ, đã gần 5 giờ chiều rồi, sắp hết giờ làm việc mà vẫn còn có người đợi. Hôm nay là ngày phỏng vấn để tuyển chọn một giáo viên, thay thế cho một thầy giáo già vừa hưu trí. Thời buổi người khôn của khó, có một chỗ làm chẳng béo bở gì như ở đây, mà cũng có đến gần hai chục người nộp đơn. Bà làm việc không nghỉ từ sáng tới giờ, nhưng vẫn chưa xong. Không muốn để dây dưa tới ngày mai, bà nhắc điện thoại hỏi cô thư ký:
“Còn mấy người nữa?”
“Dạ chỉ còn một người chót.”
“Tốt lắm, cho vào đi!”
Bà Trâm Anh thở phào, nhẹ nhõm. Cửa mở, một cô gái trẻ lách mình bước vào, khẽ cúi đầu chào. Bà gật đầu đáp lễ và dơ tay chỉ cái ghế phía đối diện:
“Mời cô ngồi.”
Nói xong, bà nhìn vào tập hồ sơ đang mở rộng phía trước mặt, liếc sơ qua tên tuổi, chứng chỉ, bằng cấp rồi ngẩng lên mỉm cười:
“Cô Phượng!”
Phải, người con gái trẻ đó chính là Phượng. Sau sáu tháng chữa chạy, nàng đã bình phục. Sau khi ngưng hoá trị, mái tóc óng ả đã mọc lại, được nàng uốn chải theo kiểu ngắn. Kết quả thử nghiệm cho thấy ung thư đã bị đẩy lui, và mùa thu năm đó nàng đến trường trở lại. Cuối niên học, Phượng đã đậu kỳ thi tốt nghiệp với điểm trên trung bình. Ngay sau đó nàng nộp đơn đi xin việc, và hôm nay là buổi phỏng vấn đầu tiên. Bà Trâm Anh sửa lại gọng kính, nhìn Phượng một thoáng rồi mới nhỏ nhẹ nói:
“Cô hãy tự nói về mình đi!"
Phượng ngồi thẳng người lên, bằng một giọng chậm rãi, nàng bắt đầu kể, nàng kể hết, không dấu giếm một chi tiết nào cả. Thoạt nghe, bà Trâm Anh xửng sốt, thật không thể ngờ được rằng người con gái trẻ trung, xinh đẹp như thế kia lại mắc căn bệnh ung thư quái ác. Nàng đang ngồi trước mặt bà, nhỏ bé, nhu mì, yếu đưối, nhưng đầy quả cảm.
“Sự thật là…” Phượng nuốt nước bọt nói “ tôi cũng không biết là tôi có thể sống được bao lâu nữa, có thể năm, mười năm, nhưng cũng có thể ngắn hơn, nếu ung thư tái phát. Vì vậy tôi muốn thẳng thắn trình bày với bà để tùy bà quyết định việc chấp nhận hay không, cho tôi làm giáo sư. Hiện giờ thì tôi có thể làm việc được, bệnh của tôi đang trong thời kỳ tạm ngưng, và không phải là bệnh truyền nhiễm nên không ảnh hưởng đến học trò. Tôi yêu nghề dạy học, làm cô giáo là ước mơ của tôi từ khi mới lớn, tôi muốn đóng góp với xã hội một chút công sức. Mặc dù số mạng của tôi có ngắn ngủi, nhưng tôi vẫn muốn sống những ngày có ý nghĩa cho tới khi chết.
"Cô can đảm lắm." Bà Trâm Anh khen.
Phượng mỉm cười:
"Than van thì được ích gì? Tôi không muốn tỏ ra yếu đuối, vô dụng như một người đã chết, trong khi còn đang sống.”
Thật khó mà tin đây là sự thật, bà Trâm Anh nghĩ thầm. Làm việc ở đây trên ba mươi năm, đây là lần thứ hai, bà được chứng kiến những gương can trường đáng kính phục. Lần thứ nhất, một thầy giáo trẻ bị động viên ra chiến trường, bị đạn cụt mất một chân, được giải ngũ, lại về trường, chống nạng đi dạy học, nhất định không bỏ cuộc, và lần này thì cô gái trẻ… Bà thở dài:
“Nhưng sao cô lại chọn xin dạy học ở đây? một công việc chẳng nhàn hạ tí nào, quyền lợi lại không bằng những trường ở bên ngoài.”
“Tôi mồ côi mẹ từ hồi còn nhỏ, tôi hiểu sự thiếu thốn tình cảm của những đứa trẻ mồ côi. Đã từ lâu, tôi vẫn muốn đem tình thương ra san sẻ cho những trẻ em thiếu may mắn.”
Phượng ngưng lại một phút, rồi mới buồn rầu nói tiếp:
“Tôi không may không thể có con, nhưng tôi hy vọng sẽ có cả trăm đứa trẻ để mà thương yêu, dạy dỗ. Tôi sẽ không ngại vất vả…”
Bà Trâm Anh cảm động quá, đứng ngay dậy, đi vòng qua bên kia bàn, nắm lấy tay Phượng xiết chặt, giọng xúc động:
“Cô Phượng! cô chính là người mà các em cần đến. Chúng tôi rất vui được có cô trong ban giáo sư của nhà trường. Cô có thể làm việc với chúng tôi tới chừng nào cô muốn nghỉ. Hợp đồng đây, cô giáo! xin mời cô ký.”
Hai tuần sau, Phượng bắt đầu buổi dạy học lần đầu tiên. Đưa cô giáo mới đến lớp, bà hiệu trưởng nói:
“Cô phụ trách môn toán lớp 7.” Bà mỉm cười “lớp nhỏ, nhưng có nhiều học sinh cá biệt, dạy dỗ chúng không phải là một việc dễ dàng. Chúng tôi đặt hy vọng ở cô.”
“Tôi sẽ cố gắng!” Phượng nói mà như một lời hứa với chính mình.
“Tốt lắm, bây giờ tôi phải về văn phòng giải quyết nhiều giấy tờ, chào cô nhé! Có gì khó khăn, cứ đến gặp tôi.”
Phượng lễ phép cám ơn và tiễn bà ra cửa, học trò lại đứng lên chào. Quay vào lớp, nàng dịu dàng khoát tay:
“Các em ngồi xuống!”
Bây giờ nàng mới bắt đầu quan sát lớp học: tất cả chừng năm mươi em, vừa trai vừa gái, tuổi tác không đồng đều, đứa lớn, đứa nhỏ, lại có cả mấy đứa cụt một tay, hoặc phải chống nạng, đó là những trẻ em nạn nhân của chiến cuộc. Phượng thở dài, chiến tranh leo thang, số người chết càng tăng, thì số trẻ em mồ côi cũng tăng. Nhìn những đứa trẻ thiếu may mắn, nàng thấy lòng xót sa. Phượng bắt đầu điểm danh để nhớ tên học trò. Cứ mỗi lần gọi tên, là một em đứng dậy, bốn mắt nhìn nhau, có những cặp mắt ngây thơ, trong sáng, nhưng cũng có những cặp mắt lầm lỳ, bướng bỉnh khiến Phượng hiểu nhiệm vụ của mình quả thật không phải dễ dàng. Chỉ sau vài tuần, Phượng đã nhận xét thấy trình độ của học trò không đồng đều, có đứa thông minh sáng láng, trái lại cũng có những đứa chậm chạp, yếu kém. Phượng không ngần ngại bảo học trò:
“Từ nay mỗi tuần hai ngày, thứ ba và thứ năm, sau giờ tan học, cô sẽ ở lại trễ thêm một tiếng. Em nào không hiểu bài, cứ hỏi, cô sẽ giảng thêm.”
Nhờ những nỗ lực cố gắng như vậy, mà dần dần những em đuối kém trở nên tấn tới, theo kịp chúng bạn. Phượng vui lắm, nàng đem hết tâm can ra dạy dỗ học trò. Bù lại, nàng được chúng thương yêu, coi như một người mẹ. Dần dà, công việc trở nên điều hoà, trôi chảy. Mùa thu qua nhanh chóng, rồi mùa đông tới đem theo giá buốt. Một buổi sáng, người ta đưa tới viện mồ côi một đứa bé ngồi trên xe lăn, đứa bé trai chừng mười một, mười hai tuổi, chân bên phải bị bó bột và cột bằng những thanh thép cứng. Người khán hộ nói:
“Em này vừa ra khỏi bệnh viện.”
“Sao thế?” Phượng hỏi “bị té ngã à?”
“Không! bị tai nạn xe lật, cha mẹ em chết cả, còn em bị thương gẫy chân.”
Phượng xúc động, nàng lại gần đứa trẻ, mỉm cười làm quen:
- “Chào em nhỏ! em tên gì?”
Nhưng nó quay đi, không trả lời, nhìn mọi người bằng cặp mắt thờ ơ, chán nản. Phượng thở dài, có vẻ suy nghĩ, làm cách nào cho em cởi mở được đây? Hai hôm sau, Phượng lại thấy đứa bé đó ngồi trên xe lăn xe ở một góc sân, nhìn những đứa trẻ cùng tuổi nô đùa với một vẻ thèm thuồng. Lúc đó là giờ thể dục, Phượng đang sắp sửa cho học trò chạy đua, thấy thế vội tới gần, đưa cái còi cho đứa nhỏ, vờ hỏi:
- “ Này em giúp cô một tí nhé? Cô bị đau cổ, em thổi còi dùm cô, được không?”
Thằng bé ngập ngừng, nhưng cũng cầm lấy cái còi. Phượng quay lại đám học trò, nói:
“Em này cũng tham gia cuộc chơi. Ừ, mà em cho các bạn biết tên đi chứ?”
“Em tên Tâm. Bấy giờ nó mới mở miệng, lí nhí nói.”
“Ừ, em Tâm sẽ ra hiệu cho cuộc đua. Nào, sẵn sàng chưa? nghe tiếng còi thì bắt đầu chạy nhé? Tâm, thổi đi!”
Tâm đưa còi lên miệng thổi hoét một tiếng, lũ học trò xô nhau chạy, một đứa bị vấp té lăn cù, Tâm bật lên cười rồi bẽn lẽn cúi mặt xuống. Phượng cũng mỉm cười, khuyến khích:
“Em cũng sẽ chạy được như các bạn, nếu em cố gắng. Cái chân gẫy, nhưng đã bó bột liền rồi, nếu em chịu khó tập luyện thì mới đi lại được. Đàng này em cứ ngồi ỳ một chỗ, cái chân không hoạt động sẽ teo lại và thành tật, suốt đời em sẽ phải ngồi xe lăn, em không muốn thế chứ? Hãy đứng dậy nào! cô sẽ giúp em tập đi.”
Tâm ngập ngừng, lộ vẻ không tin tưởng, nhưng Phượng cương quyết bước tới, một tay đỡ ngang lưng, tay kia xốc nách kéo nó đứng dậy, nàng giúp nó ra khỏi xe lăn. Tâm run rẩy đứng trên một chân, mặt hơi nhăn lại vì sợ, nhưng nó cũng dựa người vào Phượng mà bước đi chập choạng. Được một lúc, cả hai đều thở hổn hển, mồ hôi dính áo. Phượng đặt nó ngồi vào xe như cũ:
- “Nghỉ một lát rồi ta lại tiếp tục nghe? Chiều nay cô sẽ xuống bệnh xá xin cho
em một đôi nạng và sẽ giúp em tập thêm một lúc nữa. Chân em có đau không?
- “ Dạ không, chỉ hơi mệt thôi, nhưng em sẽ cố gắng.”
Tâm ngưng lại, ngập ngừng một lúc rồi mới bẽn lẽn nói nhỏ:
“Lạ lắm cô ơi! em có cảm tưởng như hồi còn nhỏ xíu, được mẹ em dắt, tập đi những bước chập chững đầu tiên.”
Nói xong nó nhoẻn miệng cười, nụ cười đầu tiên từ khi nhập viện, Phượng cảm động quá, ôm nó vào lòng xiết chặt, cả hai cùng dơm dớm nước mắt
Một buổi chiều, sáu tháng sau đó, bà Trâm Anh đang ngồi trong văn phòng đọc những giấy tờ, báo cáo bầy la luêt trên mặt bàn, thình lình chuông điện thoại reo vang:
- “A lô! bà hiệu trưởng ơi! có cô Phượng ở đó không? làm ơn nói cô xuống trại bệnh giúp tôi một tay nhé? Em bé này kêu khóc đêm ngày và không chịu ăn uống gì cả.”
“Hử? sao lại gọi cổ?” Bà xửng sốt nói “săn sóc bệnh đâu phải là việc của cô giáo?”
“Nhưng cô Phượng vẫn giúp chúng tôi từ lâu nay. Không có cô, chúng tôi vất vả lắm, em bé này bệnh nặng nên rất khó tính.”
Bà Trâm Anh giật mình:
“Trời ơi! cô Phượng cũng đang bệnh mà.”
Bà hỏi thêm vài câu nữa rồi thẫn thờ đặt điện thoại xuống, suy nghĩ một hồi, bà bấm chuông cho mời Phượng đến. Một lúc sau, Phượng đã có mặt trong phòng, ngồi đối diện với bà, mặt ngẩng lên, chờ đợi. Lặng lẽ quan sát nàng một cách kín đáo, Phượng trông hơi gầy, nhưng vẫn tươi tỉnh, bà Trâm Anh thở phào, cất giọng ôn tồn:
“Cô Phượng! cô có mấy em ở trại bệnh tuần này?”
“Để coi…” Phượng tính nhẩm rồi nói “thứ hai có hai em, thứ ba cũng hai, bốn em cả thảy.”
“Thế còn hôm qua?”
Phượng hơi cau mày:
“Tôi làm việc đó sau buổi trưa, thời giờ riêng của tôi, không phải trong giờ dạy học.”
“Tôi hiểu, cô Phượng à, hôm qua cô cũng giúp một em bé bị liệt hai chân tập viết, phải không?”
“Dạ phải.”
Bà Trâm Anh gõ mãi cái bút chì xuống mặt bàn, phải nói khéo thế nào cho cô ta hiểu đây? Sau cùng, bà cất tiếng:
“Cô Phượng! Tôi mong cô hiểu những lời tôi nói, tất cả những điều cô làm cho các em ở đây, tôi đều biết cả. Cô quả thật là một cô giáo rất tận tâm, một người rất giàu lòng vị tha. Nhưng, trong một vài khía cạnh nào dó, tôi mong cô nên cân nhắc, suy nghĩ lại.”
“Tôi đã làm điều gì sai lầm chăng?”
“Ồ không, cô không có gì sai hết.”
Bà vội vã nói bằng một giọng ái ngại, “nhưng cô nên nghĩ đến cô, tôi muốn nói đến sức khoẻ của cô. Cô là ngưòi cần thiết cho nhà trường, cho các em học sinh, chúng tôi không thể thiếu cô. Vậy thì tại sao cô lại làm kiệt sức mình bằng cách tự rước thêm một công việc khó khăn, nặng nhọc như vậy?”
Một lúc im lặng, sau cùng Phượng ngẩng lên, cương quyết nói:
“Bà Trâm Anh! Tôi hiểu sự quan tâm và lòng ưu ái của bà, tôi rất cảm động và biết ơn. Xin bà hiểu cho rằng từ khi quyết định xin làm việc tại đây, tôi đã đoán trước rằng sẽ phải vất vả, phải hy sinh… Nhưng chính tôi muốn thế, tôi đã có chủ tâm đem cuộc đời của tôi làm một cái gì có ích cho các em mồ côi kém may mắn, các em thật sự cần được giúp đỡ. Đó cũng là trách nhiệm của một cô giáo, và tôi muốn được tiếp tục.”
Sau cùng, bà Trâm Anh hiểu rằng bà đã thua cuộc, bà mỉm cười nhưng nước mắt rưng rưng:
“Thôi được rồi, cô có thể tiếp tục. Nhưng cô hứa với tôi là đừng làm việc quá sức, cô Phượng nhé?”
“Bà yên tâm, đừng lo gì cho tôi cả.”
Chờ cho Phượng đi khỏi, bà mới đứng dậy, đi xuống khu bệnh xá, thì thầm gì đó với cô khán hộ, chỉ thấy cô ta tròn mắt ngạc nhiên, kêu trời luôn miệng:
“Đâu có ai dè? Thiệt tội quá, thôi từ nay dù có bận, tôi cũng phải dấu cổ mới được.”
Nhưng kế hoạch của bà Trâm Anh dường như không có hiệu quả, vì đâu cần người gọi, sau giờ dạy, Phượng vẫn xuống trại bệnh để giúp đỡ an ủi các em đau ốm, ngoài những em tàn tật, yếu kém ngay tại các lớp học do nàng phụ trách. Sau đó về nhà, lại dọn dẹp nhà cửa, làm cơm nóng, canh sốt cho chồng. Khánh lo cho sức khoẻ của vợ, dạo này hình như nàng hơi xuống cân, chắc vì làm việc quá sức. Chàng đem việc đó bàn với ông Hanh, suy nghĩ một lúc, ông bảo:
“Để ba lo vụ đó cho.”
Hai tháng sau, lên chơi hai vợ chồng. Gặp con gái, ông hớn hở báo tin:
“Ba dành cho con một ngạc nhiên bất ngờ. Nè, xem đi!”
Ông rút từ túi áo ra một cái phong bì, đưa cho Phượng. Nàng cầm lấy, mở ra đọc: đó là giấy bổ nhiệm Phượng đi dạy học tại trường trung học Lái Thiêu, ông đã cầy cục, chạy vạy mãi mới xin được.
“Trước kia con vẫn mơ ước thế, phải không? Về quê, không khí trong lành, tốt cho sức khoẻ, cha con ta lại được sống chung với nhau. Lái Thiêu với Sài Gòn đâu có xa xôi gì, cuối tuần Khánh sẽ về, ba thấy cũng tiện lắm.”
Nhưng ai sẽ lo cơm nước cho anh ấy? Không được đâu ba ơi! trước khác, bây giờ khác, biết con còn sống được bao lâu nữa. Con không muốn xa Khánh, dù chỉ một ngày. Sao ba cứ muốn con thôi việc nơi đây?”
“Ba thấy con làm việc quên mình, ba không muốn con quá vất vả vì mấy đứa nhỏ đó nữa, con cần thì giờ để nghỉ ngơi.”
Phượng gấp tờ giấy, để xuống bàn, nói giọng nghiêm trang:
“Mới đầu là bà Trâm Anh, bây giờ lại tới ba… Con biết tất cả chỉ vì lòng thương con, nhưng nếu mọi người thấy công việc của con là hữu ích, thì đừng ngăn cản con, cứ để cho con đóng góp nốt quãng đời còn lại của con cho đám trẻ ở đây, đó là niềm an ủi của con bây giờ.”
Nàng quay sang chồng:
“Chỉ cần ở bên anh, em cảm thấy rất hạnh phúc. Anh cũng đâu có muốn sống xa em, phải không?”
Khánh đáp lại bằng cách ôm vợ vào lòng. Sau bữa ăn trưa, Khánh phải đi trực bệnh viện, Phượng lẳng lặng vào phòng, đóng cửa lại. Ông Hanh bật TV xem đá banh, một lúc chán, ông đến trước phòng con gái, gõ thật nhẹ vài cái:
- “Ba vô được chứ?”
“Cửa không khoá, ba vô đi!” Phượng nói vọng ra.
Nàng đang ngồi trước một đống giấy màu, nơ buộc và đồ chơi. Tò mò, ông cúi xuống đọc những mảnh giấy nhỏ: phần thưởng cho Nguyễn Văn Tín lớp 7A1, Trần Thị Nguyệt lớp 7A2. Ngạc nhiên, ông hỏi:
“Con bận rộn với những thứ này suốt ngày, để làm gì vậy?”
“Mọi cố gắng đều cần được khuyến khích, đây là phần thưởng.”
“Con nghĩ rằng nó có tác dụng à?”
“Có chứ! ba không tin sao?”
Một vẻ gì trong đôi mắt nàng khiến ông tin tưởng, ông gật đầu, ngồi xuống giường:
- “Con có cần ba giúp không?”
“Nếu ba muốn”
Nàng đưa cho ông vài gói đồ cùng giấy màu và nơ buộc, hai cha con tỉ mẩn làm việc.
Lưu Phương Lan
(Xin Xem tiếp Chương 18)



