Mã Đáo Thành Công (Đ.Văn)

Theo dân gian, với năm Ngựa, câu chúc "Mã đáo thành công" sẽ là câu chúc Tết hay nhất.
Câu chúc “Mã đáo thành công” phù hợp cả người làm kinh doanh, lẫn người chinh phục con đường quan lộ.
Như vậy, Tết năm nay, bên cạnh lời chúc sức khỏe, bạn có thể gửi đến bạn bè, người thân, gia đình, câu chúc "Mã đáo thành công" cho một năm mới 2026 đầy hứa hẹn.
Dưới đây là những câu chuyện thú vị xung quanh câu chúc "Mã đáo thành công".
Lý giải câu chúc “Mã đáo thành công”
“Mã đáo thành công” dịch nôm có nghĩa là “ngựa về ắt sẽ thành công” hay “có ngựa ắt sẽ thành công”. Ý nghĩa của câu chúc trên gắn liền những lý giải như sau:
Xưa kia, ngựa là phương tiện đi lại thuận lợi nhất vì ngựa chạy nhanh, sức bền, thông minh, trung thành. Cuộc sống con người khi xưa rất gần gũi với loài ngựa. Ngựa cùng con người đồng cam cộng khổ trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động, đi lại buôn bán và cả khi ra trận.
Mỗi lần đi làm ăn xa, ngựa cùng con người có khi đi cả năm cả tháng. Khi ra chiến trận, thường “đi mười về một”. Vì vậy, “mã đáo” - “có ngựa quay về” - chính là một hình ảnh ẩn dụ cho sự thành công bởi còn người là còn tất cả.
Ngoài ra còn có một cách lý giải khác: Thời xưa, người Trung Quốc ở phương Bắc sinh sống trên các bình nguyên, đồng cỏ thường gia tăng số lượng gia súc trong đàn bằng cách thuần dưỡng ngựa hoang.
Đến mùa xuân, người ta thường thả ngựa nuôi trong nhà vào các cánh rừng để những con ngựa này dụ ngựa hoang trở về trang trại khi mùa đông khắc nghiệt kéo đến.
Một khi thả ngựa nuôi trong nhà ra thì có hai khả năng xảy đến: hoặc là ngựa của mình vĩnh viễn đi mất (có thể do bị thú dữ ăn thịt, có thể bị người ta bắt mất cũng có thể do nhập đàn với ngựa hoang và bỏ đi luôn...) hoặc là ngựa sẽ quay trở về và còn dẫn theo những con ngựa hoang khác.
Vì vậy, hình ảnh ngựa quay về được coi là tượng trưng cho thắng lợi. Ít nhất, nếu ngựa về một mình, vậy là người chủ đã không mất nó, lúc này là “hòa vốn”. Nếu ngựa nhà còn dắt thêm ngựa hoang về cùng là đã bắt đầu “có lãi”.
Câu chúc “Mã đáo thành công” phù hợp cả người làm kinh doanh, lẫn người chinh phục con đường quan lộ. Câu chúc này thường được dùng vào dịp năm mới, trong năm ngựa, lời chúc “mã đáo thành công” càng trở nên phù hợp và ý nghĩa.
1- Lý giải tranh phong thủy “Mã đáo thành công”

Các bức tranh về ngựa vốn được xếp vào hàng những món đồ phong thủy. Nhiều người thường chọn hình tượng ngựa để trang trí trong nhà hay tại nơi làm việc bởi theo quan niệm truyền thống, ngựa là con vật trung thành, kiên nhẫn, bền bỉ, nhanh nhẹn và thường mang lại may mắn, tài lộc.
Một trong những món đồ phong thủy thường thấy về loài ngựa là bức tranh ngựa phi nước đại tượng trưng cho sự phát đạt về tiền tài hay thăng tiến về danh vọng. Ngựa phi nước đại còn hàm ý về sự đi xa, rất thích hợp với những người hay đi công tác, thường xuyên bôn ba đây đó.
Nổi tiếng trong dòng tranh ngựa là bức “Mã đáo thành công” thường có tám con ngựa bởi tám - “bát” (八) - khá gần âm với từ “phát”, tức là phát đạt. Tranh phong thủy “Mã đáo thành công” được sử dụng rộng rãi trong đời sống bởi nó phù hợp với nhiều đối tượng, từ người làm ăn buôn bán, theo đuổi tiền tài cho tới người đang trên đường quan lộ, tìm kiếm danh vọng.
Ở tranh “Mã đáo thành công”, ngựa biểu trưng cho tốc độ. Thời cổ, khi chưa có động cơ tân tiến thì ngựa là loài vật chuyên chở có tốc độ cao hàng đầu. Câu nói “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” (Một lời nói ra, xe bốn ngựa cũng không đuổi kịp) đã cho thấy tốc độ ưu việt của ngựa hoặc xe ngựa chỉ thua tốc độ lan truyền của lời nói.
Tranh vẽ tám ngựa còn được cho là bắt nguồn từ điển tích “Bát tuấn đồ” kể về tám con ngựa của Mục Vương bên Trung Quốc, là vị vua thứ năm của nhà Chu.
“Bát tuấn” (tám con ngựa) có tên Xích Ký, Đạo Ly, Bạch Mã, Du Luân, Sơn Tử, Cừ Hoàng, Hoa Lư và Duyên Nhĩ. Tương truyền, cỗ xe tám ngựa của Mục Vương đã chở nhà vua rong ruổi khắp đất nước để xem xét dân tình thế thái.
Chu Mục Vương được hậu thế tôn vinh là minh quân bởi ông đã có công giúp cho nhà Chu hưng thịnh trở lại. Hình ảnh tám ngựa có lẽ trở nên nổi tiếng cũng một phần nhờ điển tích lịch sử ấy.
Dòng tranh về ngựa thường có hai loại:
Ngựa phi ra biển: Ngựa tượng trưng cho hành hỏa trong ngũ hành, biển là nước nước tượng trưng cho hành thủy. Hỏa - thủy tương khắc. Ý nghĩa của bức tranh này là mong có một ý chí vươn lên phi thường.
Ngựa phi trên đồng cỏ: Đây là bức tranh hợp với phong thủy. Ngựa mệnh hỏa, đồng cỏ gồm cả hai yếu tố mộc (cây cỏ) và thổ (đất đai). Bức tranh ngựa phi trên đồng cỏ là một vòng tròn tương sinh Mộc - Hỏa - Thổ. Treo bức tranh này, gia chủ sẽ gặp nhiều điều may mắn, thuận lợi.
2- Lan Man Về Ngựa….

Từ ngàn xưa, người ta đã biết đem ngựa hoang về huấn luyện để giúp sức cho người trong các việc nặng nhọc, việc chuyên chở. Ngựa là một trong sáu con vật được gọi là gia súc. Sáu con vật đó là: bò, ngựa, lợn, dê, gà, chó. Ở Việt Nam (VN), năm trong sáu con vật trên đều bị người làm thịt để ăn, tùy lúc, tùy nơi; chỉ riêng có ngựa, hiếm khi thấy dân Việt đem làm thực phẩm?
Ở miền đông Hoa Kỳ nghe nói có bán thịt ngựa. Dân Pháp cũng ưa ăn thịt ngựa, và có những tiệm chuyên bán thịt ngựa (boucherie chevaline).
Cho tới thập niên 1940 – 1950 ở VN vẫn còn dùng “xe ngựa”. Chỗ ngồi của hành khách rất cao ở phía sau. Loại xe ngựa nầy có mui giống như mui xe “xích lô đạp” nhưng chiều ngang lớn hơn nhiều. Hiện thời kiểu xe ngựa nầy, trang hoàng đẹp mắt, dùng trong việc chở khách du lịch ở một số điểm tham quan…
Trong thập niên 1950, VN có chế thêm một loại “thùng xe” khác cho ngựa kéo gọi là xe “thổ mộ”. Thùng xe nầy vuông dài, bên trên có mui cong bằng gỗ; (xe nầy còn có tên là xe hộp quẹt vì hình dáng của thùng xe), nhưng tên “xe thổ mộ” thông dụng hơn. Đây là loại xe chuyên chở hành khách rất thông dụng khắp nơi ở VN thời đó cho đến khi bị “xe hơi”, hoặc xe Lambretta thay thế. Bác “tài” điều khiển xe thổ mộ có tên đặc biệt: “anh xà ích”. Theo ông Bình Nguyên Lộc (trong quyển Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc VN) thì chữ xà ích là tiếng Phi Luật Tân được Việt hóa.
3. Ngày Xưa.
Hình ảnh hào hùng của người chiến sĩ gắn liền với hình ảnh của con ngựa. Cỡi ngựa ra trận, nếu có bị tử trận thì “chết trên mình ngựa” là một cái chết oai hùng. Câu “da ngựa bọc thây” cũng dùng để chỉ cái chết vinh quang “đền nợ nước” của người lính trận. Thành ngữ “da ngựa bọc thây” cũng tương đương như câu “quan tài được phủ lá quốc kỳ”, một nghi thức danh dự “tổ quốc ghi công” dùng trong đám tang của các chiến sĩ cận đại và hiện đại.
Thỉnh thoảng có nghe nói “đau như bị ngựa đá” Không biết trong cuộc sống thật của những người có liên hệ trực tiếp với ngựa, như phu xe ngựa, nài cỡi ngựa đua, những người săn sóc cho cuộc sống của ngựa… có bao nhiêu người bị ngựa đá, và nếu bị đá chắc chắn là đau lắm!
Vì người nuôi ngựa thường đóng vào móng ngựa một miếng sắt hình vành cung để bảo vệ móng ngựa thật. Miếng sắt nầy cũng được gọi là móng ngựa (mã đề 馬).
"Vành Móng Ngựa" có nghĩa là tòa án vì cái bàn – chỗ vị thẩm phán (hay còn gọi là “quan tòa”) ngồi để phân xử , tuy bàn nầy rất to, lại có hình giống cái móng ngựa. Theo quan niệm xưa của dân Đông Á, ra tòa hay ra trước “vành móng ngựa” là một điều kém may mắn, hay một điều vô phúc…
“Một con ngựa đau, cả tàu nhịn cỏ” diễn tả sự tương thân tương trợ của những người cùng chung một nhóm, hay cùng một chí hướng. Thành ngữ nầy có lẽ hợp với lối sống tương trợ của dân ta chăng?
Để chỉ lời nói có uy tín, đã nói ra thời giữ lời, người ta thường dùng thành ngữ:
“Một lời nói ra bốn ngựa khó theo” (quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy).
Từ “ngựa bền” chỉ ngựa có sức đi lâu và đi xa. Loài ngựa hay và chạy nhanh nổi tiếng như ngựa “bắc thảo” (ngựa vùng thảo nguyên phương Bắc của Trung Hoa). “Ngựa bết” là ngựa đã đi xa và đã mệt mỏi. “Ngựa bỡ” chỉ ngựa mau mệt mặc dầu chưa đi được xa.
“Ngựa cất” là ngựa đưa cao hai chân trước lên và chân co lại, do đó đầu ngựa cũng cất lên cao. Thường khi ngựa đang chạy nhanh mà bị gò cương để đứng lại một cách bất ngờ, ngựa sẽ “cất” hai chân trước lên và có thể phát ra tiếng (ngựa hí).
“Ngựa kiệu” là một cách đi lúp xúp (chậm và đều) của ngựa với tốc độ chậm; cách đi nầy ngược với “ngựa phi” tức ngựa chạy nhanh. Ngựa phi trong lúc phóng những bước thật dài còn gọi là “ngựa sải”. Ngoài ra còn có từ “ngựa tế” tức ngựa chạy nhanh nhưng chạy với một tốc độ đều đặn.
Ngựa không nghe theo lệnh người cỡi, hay nhảy chồm hoặc nhảy dựng lên gọi là “ngựa chứng”. Khi ngựa đang chạy, mà vì lý do nào đó chân sau lại đạp nhằm chân trước thì gọi là ngựa “đạp đề”. Ngựa chuyên môn được dùng trong việc “ăn thua” ở trường đua (đua ngựa) là “ngựa đua”.
“Ngựa truy phong” có nghĩa đen là ngựa hay, chạy nhanh hơn gió; nhưng có nghĩa bóng là chạy trốn, từ đó có thành ngữ “quất ngựa truy phong” để chỉ hành động chạy trốn của một người nào đó sau khi làm một việc không đúng. Thường được dùng để chỉ hành động của một người đàn ông bỏ rơi một phụ nữ.
“Ngựa về ngược”. Thành ngữ nầy theo nghĩa đen thì trong cuộc đua, có một con ngựa dỡ lại thắng cuộc. Nhưng theo nghĩa bóng, trong bất cứ một cuộc tranh tài nào, phe có nhiều hy vọng hay được nhiều người nghĩ là sẽ thắng, lại thua cuộc. Trong đời sống chánh trị, nghe nói ông nào ra ứng cử mà bị ngựa về ngược thì cảm thấy một nỗi ê ẩm đúng là “đau như bị ngựa đá”. Ngoài ra còn có thành ngữ “ngựa con háu đá”. Dùng để chỉ sự khoe khoang hay hành động kém suy nghĩ của những người ít kinh nghiệm.
“Ngựa quen đường cũ” chỉ sự trở lại của một thói quen (không được như ý) mà một người đã làm trong thời gian dài (đã gián đoạn).
“Con đĩ ngựa” hoặc “đồ đĩ chó”. Không hiểu tại sao chỉ có hai con vật: chó và ngựa, bị người gán cho từ đĩ? Do ảnh hưởng tiêu cực, bất công của xã hội “trọng nam khinh nữ”. Ngày xưa, chữ “ngựa” khi dùng để ám chỉ hành vi của một người (thường là phái nữ) thì nghĩa của nó đã được dùng với dụng ý xấu. Khi nói con nhỏ đó “ngựa” lắm, tức ám chỉ cô đó có vẻ chưng diện.
4- Bộ Ngựa” tức bộ ván, giống như một cái giường, nhưng gồm nhiều miếng gỗ (hay miếng ván) ghép lại và được đặt trên hai ghế dài bằng cây gọi là hai “chân ngựa”. Các nhà giàu ngày xưa hay sắm bộ ngựa gõ có độ dầy từ 8 đến 10 cm. Gõ là một loại cây quí, giá cao hơn các loại cây khác.
Trong dụng cụ âm nhạc có “con ngựa đờn” hay “ngựa đàn”, là miếng gỗ nhỏ làm chỗ tựa cho hai sợi dây đờn của đờn nhị (hay đờn cò). Thời Pháp thuộc, ở vài vùng nông thôn gọi chiếc xe đạp (xe máy) là con “ngựa sắt” vì xe đạp được chế tạo bằng kim loại (có thể bằng sắt hoặc bằng một thứ kim loại khác) và có công dụng chuyên chở như ngựa.
Con “ngựa trời” thuộc loài sâu bọ, có chân thật dài, mình thon, đầu to có vẻ giống con châu chấu, có màu xanh lá cây. Có một động vật khác tuy giống con trâu hơn, chậm chạp và nặng nề hơn, sống ở các sông rạch ở Phi Châu. Loại nầy tuy có vẻ hiền lành nhưng nếu nó tấn công ghe hay tàu nhỏ trên sông thì là đại nạn, không chết cũng bị thương. Nó gọi là con hà mã 河馬.
Cần phân biệt: con cá ngựa (seahorses – tiếng Trung gọi là hải mã海馬) là loài cá thường sống thành đàn ở đại dương. Và con Moóc (Walrus) còn gọi là hải mã (tiếng Trung gọi là hải tượng 海象tức voi biển). Là động vật to lớn thường sống ở vùng biển lạnh.
Có hai con ngựa, không phải ngựa thật, nhưng chỉ có chữ mã (ngựa) được viết bằng chữ Hán, lại rất nổi danh trong việc giải trí của người Việt. Đó là con ngựa trong cờ tướng và con ngựa trong bài tứ sắc. Hai trò giải trí nầy đều dùng một số từ gồm có: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, ngựa và chốt (hay tốt). Cái đặc biệt của hai trò giải trí nầy, là một số người tham dự lại dốt đặc, không biết một chữ Hán. Họ chỉ cần “nhớ mặt” các quân bài trên là được; trong dân gian còn dùng “ngựa giả” trong việc tiêu khiển (như đổ cá ngựa…)
Hiện nay, ở nhiều nơi trên thế giới, trò giải trí cỡi ngựa và đua ngựa là một ngành có doanh thu khá lớn.
Ngựa đen được gọi là ngựa ô. Ngựa trắng hay ngựa bạch. Ngựa màu trắng ngà hay xám tro gọi là ngựa hạc. Nếu lông ngựa có màu bạc lóng lánh thì gọi là ngựa kim. Ngoài ra còn có ngựa kim than tức ngựa kim có pha lông màu đen. Trong thực tế khi nói đến ngựa vàng thực ra phải nói là ngựa nâu nhạt hoặc ngựa nâu đỏ mới đúng.
Bên Phi Châu có hai loại ngựa đặc biệt. Đó là loài ngựa cao cổ và loại ngựa lùn, nhỏ con hơn ngựa bình thường. Cả hai loại đều có màu trắng và đen. Màu sắc của chúng là một mối tranh cãi của các nhà khảo cứu động vật vì không biết chúng là ngựa trắng có sọc đen hay ngược lại. Nhưng dân Việt ta khỏi phải tranh cãi với ai cả, vì chúng ta gọi chúng là “ngựa rằn”.
5. Lại có những chữ MÃ không gắn với ngựa.
Đầu tiên, từ mã chỉ lông non của con gà trống. Gà mới trổ mã tức là gà mới lớn.
Từ “trổ mã” lại thường được dùng để chỉ thanh niên, thiếu nữ bắt đầu phát triển về thể chất và thường có ý khen hơn là chê.
Nhưng trong từ ngữ “tốt mã rã đám” thì chắc chắn là chê rồi vì từ ngữ đó có nghĩa là dáng dấp coi tốt nhưng chẳng làm gì nên chuyện.
Liên quan tới thực vật thì có “mã đậu”, một loại cây mà hột được dùng làm thuốc chống bệnh táo bón vì hột có dầu chứa dược tính làm nhuận trường. “Mã vĩ tùng” là tên của một loại cây tùng. Cây “mã tiền” (cây Củ Chi) là một loài cây gỗ thường xanh bản địa Đông Nam Á, thành viên của họ Loganiaceae. Hạt và vỏ sau khi chế biến đem ngâm rượu, sẽ thành loại thuốc xoa bóp trị được bệnh đau lưng, nhức mỏi vô cùng công hiệu…
Thêm nữa, là mật mã (chữ hoặc số) là chữ bí mật dùng để người khác không thể đọc (mở khóa) được nếu không biết cách đọc.
Ngoài ra trong khoáng chất có “mã não”, một loại đá màu đỏ có ửng nhiều vân. Đá nầy dùng chế tạo đồ trang sức. Trong lúc đó “mã tấu” lại là một con dao lớn và dài. Từ “mã tà” ngày xưa dùng chỉ lính cảnh sát.
Từ "Mã Lực” có nghĩa đơn sơ là sức kéo của ngựa (nghĩa đen); đơn vị chỉ sức mạnh của máy xe (động cơ).
6. Những thành ngữ, tục ngữ về MÃ
“Mã tầm mã, ngưu tầm ngưu”. Từ ngữ nầy chỉ những nhóm người cùng chung một chí hướng, nghề nghiệp, hoặc hoàn cảnh sinh sống v.v. tìm lại nhau để có những sinh hoạt xã hội, hay chánh trị.
“Ngưu đầu mã diện” nghĩa đen là “đầu trâu mặt ngựa”, dùng để chỉ nhóm người làm tay sai cho những kẻ có thế lực hay kẻ giàu có để bắt nạt, chèn ép người khác.
Người giữ ngựa hay mã phu; con roi ngựa (để đánh ngựa) là mã tiên; dây cương ngựa là mã lặc; đường ngựa chạy là mã lộ, trên lưng ngựa là mã thượng. “anh hùng mã thượng” dùng để chỉ người anh hùng bụng dạ rộng rãi, không chấp cứ chuyện nhỏ mọn. “Ngã ngựa” dùng trong trường hợp của một người đã bị thất thế sa cơ. Thí dụ như nói không nên tấn công hay chỉ trích người đã ngã ngựa. Trong lãnh vực tài chánh, người ta dùng cụm từ “lạm phát phi mã” để chỉ tình trạng lạm phát quá nhanh (như ngựa phi).
“Thượng mã phong 馬上风”. Nó chỉ tình trạng của một người đàn ông chết bất ngờ, (không phải trong lúc đang chiến đấu ngoài trận địa để được da ngựa bọc thây, lưu danh muôn thuở) mà là chết trong khi đang làm tình với phụ nữ, chết trong lúc đang sung sướng tê mê…
Khuyết Danh
nguồn Nghiên cứu lịch sử
ĐH ST - (TKH VL)
